Sự phân chia theo tính chất nghề nghiệp
Luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn
Trong tiếng Anh, thuật ngữ chung nhất để chỉ “luật sư” là lawyer hoặc legal practitioner (người hành nghề luật), và cổ hơn nữa là “men of the court”. Tùy theo chức năng của nghề nghiệp, luật sư có thể được phân loại thành luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Tuy nhiên ở Việt Nam, sự phân định này chưa rõ rệt và không có sự hạn chế về loại hình và lĩnh vực hoạt động chuyên môn của luật sư cũng như văn phòng luật sư. Tuy nhiên, trong các nước theo hệ thống luật thông pháp, xã hội luật sư đã phân hoá và phân cấp rất sâu và rõ ràng.
Sự phân chia theo lĩnh vực hoạt động
Barrister và solicitor
Ở Anh và Australia, ta sử dụng các thuật ngữ chuyên biệt là barrister và solicitor để chỉ luật sư. Barrister là luật sư chuyên đảm nhiệm việc tranh tụng tại toà, còn solicitor là luật sư chuyên tư vấn pháp lý, lo chuẩn bị hồ sơ và thực hiện các thủ tục giấy tờ pháp lý. Tương đương với thuật ngữ này trong tiếng Việt là luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Tuy nhiên, trên thực tế, một luật sư có thể kiêm hai chức năng này.
Attorney ở Mỹ
Ở Mỹ, người ta sử dụng thuật ngữ attorney để chỉ luật sư. Có hai loại attorney: agent và pleader. Các agent đại diện cho các đương sự tiến hành các thủ tục pháp lí thông thường, đặc biệt là các thủ tục hành chính cần thiết cho việc khởi kiện hoặc theo kiện tại toà dân sự hoặc hình sự. Còn các pleader, tương tự như barrister ở Anh và Australia, chuyên tham gia tranh tụng tại toà.
Sự phân chia theo đối tượng khách hàng
Ở các nước thông pháp, thuật ngữ luật sư cũng phản ánh sự phân chia theo đối tượng khách hàng. Có in-house lawyer – luật sư riêng, family lawyer – luật sư gia đình và corporate lawyer – luật sư công ty. Các corporate lawyer là những luật sư đại diện cho một công ty tham gia vào các hoạt động pháp lí liên quan tới công ty đó, bao gồm cả tranh tụng và tư vấn. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc thuê luật sư riêng cho gia đình và doanh nghiệp chưa phổ biến. Gần đây, thuật ngữ “luật sư kinh doanh” đã xuất hiện, và nó ám chỉ việc cung cấp dịch vụ pháp lý hỗ trợ cho các doanh nghiệp và đơn vị kinh doanh.
Sự phân chia theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn
Ở các nước theo hệ thống luật thông pháp, luật sư đã được phân biệt rõ rệt theo lĩnh vực hoạt động chuyên môn của họ. Có criminal lawyer (luật sư hình sự), economic lawyer (luật sư kinh tế), commercial lawyer (luật sư thương mại), construction lawyer (luật sư xây dựng), labor lawyer (luật sư lao động), contract lawyer (luật sư hợp đồng), tax lawyer (luật sư thuế), environmental lawyer (luật sư môi trường), intellectual property lawyer hay patent lawyer (luật sư sở hữu trí tuệ), real estate and housing lawyer (luật sư địa ốc), bankcruptcy lawyer (luật sư chuyên về phá sản), divorce lawyer (luật sư chuyên về li hôn), và nhiều lĩnh vực khác.
Như vậy, rõ ràng rằng sự phát triển của nghề luật ở các quốc gia theo hệ thống luật thông pháp được phản ánh trong sự phát triển của ngôn ngữ và hệ thuật ngữ chỉ người luật sư. So với tiếng Việt, hệ thuật ngữ của các nước này phong phú và toàn diện hơn rất nhiều, phản ánh chính xác tương quan về lịch sử và mức độ phát triển của nghề luật sư ở Việt Nam so với thế giới.
Được chỉnh sửa bởi HEFC. Để biết thêm thông tin, vui lòng truy cập hefc.edu.vn.
